Erwin Rommel - Sự nghiệp lừng lẫy, kết thúc trong bi kịch. Vị Tướng được cả tất cả Đối Thủ nể phục và kính trọng.

Saturday, June 8, 2019

star

Thống chế Erwin Rommel
Erwin Johannes Eugen Rommel (1891 - 1944) là một trong những vị Thống chế được Hitler yêu mến nhất và nổi tiếng của quân đội Đức trong thế chiến II. Ông được đánh giá là có nhiều mưu mẹo trong tác chiến và có lòng quả cảm. Nhưng sự nghiệp nhà binh của ông chỉ bắt đầu sáng sủa khi ông được giao là chỉ huy Tiểu đoàn Bảo vệ Quốc trưởng để bảo vệ an ninh cho Hitler nên có nhiều cơ hội gần gũi với Quốc trưởng. Ông cũng là tác giả của cuốn sách "Xe Tăng trong các cuộc Tấn công" (tiếng Đức: Panzer greift an) nổi tiếng thời đó.


Sau khi không được tham gia trực tiếp chỉ huy đơn vị nào trong các cuộc thôn tính trước đó của Hitler, khoảng đầu năm 1940, Rommel đến xin phép Hitler để cho ông được chỉ huy một sư đoàn tăng thiết giáp mặc dù trước đó Rommel không hề có kinh nghiệm trong việc chỉ huy loại hình quân này. Vốn thân cận và quý mến Rommel nên Hitler đồng ý cho ông được chỉ huy Sư đoàn Thiết giáp số 7 sẽ được tham gia trong cuộc tấn công nước Pháp sắp tới. Việc bổ nhiệm đột ngột và bất ngờ này của Quốc trưởng Hitler đã gây ra sự nghi kỵ và tranh luận dữ dội trong hàng ngũ sỹ quan quân đội Đức vì họ cho rằng Rommel không có bất cứ kinh nghiệm vào trong việc chỉ huy tăng thiết giáp và họ đề nghị cho Rommel chỉ huy một sư đoàn bộ binh chuyên đánh vùng núi khi đó còn thiếu chỉ huy. Thế nhưng, Rommel đã không làm Hitler thất vọng và chứng tỏ cho mọi người thấy Hitler có con mắt nhìn người tinh tường như thế nào qua việc chỉ huy Sư đoàn Thiết giáp số 7 thắng trận giòn giã ngay trong trận tấn công nước Pháp năm 1940 đầu tiên.
*Sư đoàn Ma của Rommel
Trong chiến dịch tấn công nước Pháp, Sư đoàn thiết giáp số 7 của Rommel là đơn vị đầu tiên vượt sông Meuse tại Dinant và đánh tan Tập đoàn quân số 2 và Tập đoàn quân số 9 của Pháp đang phòng thủ trong có 24 tiếng đồng hồ, sau đó quân của Rommel ào ạt tấn công như đi vào chỗ không người, hành quân cả ngày lẫn đêm không đợi nghỉ ngơi, chỉ trong 1 ngày quân của Rommel đã tiến được 48 km. Rommel tiến quân nhanh chóng đến nỗi liên lạc giữa ông ta với cấp trên là tướng Hermann Hoth và tổng hành dinh đã bị gián đoạn, không biết quân ông ta ở đâu nên được gọi là "Sư đoàn Ma". Rommel luôn phớt lờ các mệnh lệnh và không cho quân Pháp có thời gian thiết lập một tuyến phòng thủ mới, ông ta tiếp tục theo hướng tây bắc tiến về Avesnes-sur-Helpe, ngay phía trước các sư đoàn Panzer số 1 và số 2. Sáng ngày 15/5, các đơn vị còn lại của Sư đoàn Thiết giáp Dự bị số 1 Pháp, đã được nghỉ ngơi sau khi mất gần 16 xe tăng tại Bỉ, đã bị Rommel tấn công khi đoàn xe tăng Pháp còn đang xếp hàng chờ nhận nhiên liệu. Sư đoàn Thiết giáp Dự bị số 1 Pháp phải rút lui mà chỉ còn lại có 36 xe tăng, sau đó thì bị tiêu diệt hoàn toàn. Rommel đã tiếp tục thúc quân về phía tây, đánh tan Sư đoàn Bộ binh 18 và 22 Pháp, cô lập Sư đoàn Bộ binh Bắc Phi 4 tại Philippeville. Mờ sáng hôm sau, ngày 16/5, Sư đoàn của Rommel đến Avesnes và gặp may khi bắt gặp Sư đoàn Cơ giới số 5 của Pháp đã dựng trại nghỉ đêm ngay trên đường tiến quân của ông, và để các xe cộ xếp hàng ngăn nắp dọc theo lề đường còn binh sĩ vẫn đang ngủ say. Nhân cơ hội này, xe tăng của Rommel liền xông thẳng vào xóa sổ chúng. Trong trận này, Sư đoàn thiết giáp 7 do Rommel chỉ huy lập công đầu khi đánh tan Tập đoàn quân số 9 của Pháp, mở thông đường qua tuyến Sambre-Oise tại Landrecies mà phía Pháp muốn giữ bằng mọi giá, khiến quân đội Pháp "tan vỡ theo đà chạy trốn; bị giày xéo dễ dàng trong giấc ngủ của họ". Đến ngày 17/5, Rommel tuyên bố đã bắt được 10.000 tù binh mà chỉ mất có 36 quân. Thượng tướng Guderian rất vui mừng trước đà tiến quân nhanh chóng này của Rommel và thúc các cánh quân phải tiếp tục tiến thật nhanh về eo biển cho đến khi cạn kiệt nhiên liệu.
Vào sáng ngày 19/5, Rommel chỉ giả vờ tấn công vào Cambrai đã lấy được thành phố thật. Đến tối ngày 20/5, xe tăng của Guderian và Rommel đã ra đến bờ biển, điều mà Lục quân Đức đã không thể làm được trong suốt 4 năm thế chiến I nhưng bây giờ họ đã làm được việc này chỉ trong vòng có 11 ngày tấn công.  


Cáo sa mạc Rommel
Sau khi lập công cùng với quân đội Đức chiến thắng ở mặt trận phía Tây Âu, Rommel tiếp tục được Hitler tín nhiệm cho chỉ huy Quân đoàn châu Phi (Deutsches Afrikakorps). Quân đoàn này được gửi đến Lybia đầu năm 1941 trong chiến dịch Sonnenblume để hộ trợ quân Ý đang mất tinh thần vì những thiệt hại do liên quân Thịnh Vượng chung gây ra trong chiến dịch Compass. Ở Châu phi, Rommel giành được danh tiếng cao nhất của mình trong lĩnh vực quân sự đến nỗi được gọi là "Cáo sa mạc". Cụ thể:
- Ngày 24/3/1941, Rommel mở một đợt tấn công nhỏ với Sư đoàn Tia chớp số 5 và 2 sư đoàn bộ binh Ý hỗ trợ. Đợt tấn công này là một đợt nhỏ trước khi quân Rommel được tăng cường thêm bởi Sư đoàn Thiết giáp số 15 vào tháng 5. Quân Anh, vốn đã bị suy yếu vì phải chia quân gửi sang tham chiến tại mặt trận Hy lạp, lùi về Mersa el Brega để bắt đầu xây dựng phòng tuyến. Rommel quyết định tiếp tục tấn công một lần nữa để ngăn chặn quân Anh củng cổ phòng tuyến này. Sau một ngày đụng độ quyết liệt, quân Đức chiếm ưu thế và Rommel tiếp tục tiến quân bất chấp lệnh phải hoãn tấn công vào Agedabia cho đến tháng 5. Tổng tư lệnh Anh ở Trung Đông, tướng Archibald Wavell, đánh giá quá cao sức mạnh của liên quân phe Trục và cộng thêm nỗi lo ngại về vấn đề thời tiết mùa đông, liền ra lệnh rút quân khỏi Benghazi để tránh việc bị đợt tấn công của Rommel chia cắt. Trong khi đó Rommel nhận thấy được sự miễn cưỡng của người Anh trong một trận đánh quyết định, liền đưa ra một quyến định liều lĩnh: chiếm đóng toàn bộ Cyrenaica chỉ với lực lượng được trang bị nhẹ. Ông ra lệnh cho Sư đoàn Thiết giáp Ariete của quân Ý truy đuổi số quân Anh đang rút đi, cùng lúc cho Sư đoàn Tia chớp số 5 của quân Đức liền tiến vào Benghazi. Chỉ huy Sư đoàn Tia chớp số 5, thiếu tướng Johannes Streich, phản đối lệnh với lý do rằng hình trạng trang thiết bị của Sư đoàn hiện tại không thích hợp để hành quân. Thế nhưng, Rommel bỏ ngoài tai lời phải đối này, ông nói "không thể để dịp may hiếm hoi trôi đi chỉ vì những chuyện vặt vãnh".

- Sau khi chiếm được Benghazi, quân của Rommel tiếp tục chiếm thêm khu vực Cyrenaica tới tận Gazala vào 8/4. Việc làm này của Rommel nhận được sự chỉ trích dữ dội từ phía Bộ Tổng chỉ huy quân Ý vì họ cảm thấy Rommel đã bất tuân thượng lệnh. Điều này càng đặc biệt khi mà Rommel đáng lẽ phải tuân theo lệnh của phía Ý. Sau đó, Rommel còn nhận được lệnh từ phía Bộ Chỉ huy Tối cao quân Đức rằng ông không được vượt qua khỏi Maradah, nhưng một lần nữa Rommel lại bỏ ngoài tai lệnh này cũng như mọi lời phản đối khác từ thuộc tướng của mình. Rommel tin rằng thời điểm đó là một cơ hội lớn lao để tiêu diệt một lượng lớn quân Đồng minh ở Bắc phi và chiếm giữ Ai Cập. Sau đó, Rommel quyết định tiếp tục gây sức ép lên quân Anh đang rút lui và mở một đợt tấn công cánh vào cảng Tobruk. Trong đợt tấn công này, quân của Rommel bắt sống được Tổng chỉ huy quân sự của quân Đồng Minh tại khu vực Cyrenaica là Trung tướng Philip Neame và cả Richard O'Connor - thuộc tướng của Neame.
- Trong thời gian quân Ý đang tấn công dọc theo bờ biển, Rommel quyến định tiến lên phía bắc và tấn công khu cảng từ phía Đông Nam với Sư đoàn Tia chớp số 5 với mục tiêu rằng sẽ vây được số lớn quân Anh đang đóng tại đó. Đợt tấn công này thất bại vì các lý do về hậu cần cũng như quân Đức không đảm bảo được đường tiếp vận; đồng thời quân của Rommel cũng nhiều lần bị đột kích bởi số quân Anh đóng tại Tobruk. Ngày 11/4, vòng vây quanh Tobruk đã được thiết lập và liên quân phe Trục mở đợt tấn công đầu tiên vào thành phố. Còn các lực lượng còn lại của phe Trục tiếp tục đông tiến và đẩy lui toàn bộ quân Đồng minh ra khỏi Libya vào ngày 15/4/1941.
- Cảng quan trọng Tobruk được trấn giữ dưới sự chỉ huy của viên tướng người Úc, Leslie Morshead. Tham mưu trưởng của quân Đồng Minh tại đây, tướng Archibald Wavell đã cố gắng thực hiện 2 cuộc tấn công nhằm giải vây cho Tobruk, chiến dịch Brevity và Battleaxe, nhưng đều thất bại. Sau đó Wavell đã được thay thể bằng viên tổng tư lệnh gốc Ấn Độ, tướng Claude Auchinleck. Auchinleck đã mở một trận tấn công lớn để giải vây cho Tobruk, chiến dịch Crusader và cuối cùng đã thành công.
Chiến dịch Crusader là một thất bại cho Rommel. Vài tuần sau trận đánh, Rommel đã hạ lệnh rút lui tất cả các lực lượng của mình đang đóng tại các khu vực xung quanh Tobruk (7 tháng 12, 1941) và triệt thoái về El Agheila. Quân Anh đã đuổi theo, cố gắng tiêu diệt toán quân Đức đang rút lui như họ đã làm vào năm 1940, thế nhưng Rommel đã tung ra một đợt phản công vào ngày 20 tháng 1 năm 1942 và giáng một đòn chí mạng vào quân Anh. Tập đoàn quân Bắc Phi tái chiếm Benghazi, quân Anh phải lui về khu vực Tobruk và bắt đầu xây dựng các vị trí phòng thủ.

Đầu mùa hè năm 1942 (24 tháng 5, 1942), đội quân của Rommel tấn công. Theo cách đánh chớp nhoáng (blitzkrieg) kinh điển, đội quân của ông đã thọc vào sườn quân Anh tại Gazala. Song, quân Pháp vẫn ngoan cố kháng cự lại các đợt tấn công của người Đức trong trận Bir Hakeim. Tuy nhiên, Rommel cùng các chiến sĩ của ông đã triệt hạ được Bir Hakeim, buộc quân thù phải lui binh khỏi điểm phòng ngự kiên cố này. Như vậy là dù có sai sót trong việc chỉ huy nhưng vị Thống chế đaị tài cùng các binh sĩ tinh nhuệ đã lập nên những chiến công hiển hách, đẩy quân địch - dù đông đảo hơn quân của ông - vào thế yếu. Quân Đức thắng thế, buộc quân Anh rút lui một cách nhanh chóng, nên được gọi là "Cú phi nước đại Gazala", để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn. Tobruk giờ đây bị cô lập và chỉ còn một mình, nằm giữa Tập đoàn quân Bắc Phi và Ai Cập. Vào ngày 21/6/1942, sau một trận tấn công phối hợp nhanh, mạnh mẽ và có tính kết hợp của quân Đức, thành phố đã bị bao vây cùng với 33.000 quân lính. Các lực lượng Đồng Minh đã hoàn toàn bị đánh bại. Vài ngày sau đó họ phải rút khỏi Ai Cập
Nhưng cuộc tấn công của Rommel cuối cùng phải dừng lại tại một thị trấn nhỏ ở El Alamein (Ai Cập), chỉ cách Alexandria 60 dặm. Trong trận chiến El Alamein lần thứ nhất, quân của Rommel thất bại do những vấn đề về nguồn tiếp tế vũ khí, lương thực do một chiến dịch nhằm cắt đứt các tuyến đường vận chuyển của quân Đức của quân Anh. Người Anh rất gần với nguồn tiếp tế và có được những người lính mới, khỏe mạnh để tăng cường cho các vị trí đóng quân của họ. Chiến thuật của Auchinleck là tiếp tục tấn công vào các lực lượng Ý yếu kém để giành thế chủ động về phía mình. Rommel, một lần nữa cố gắng bẻ gãy phòng tuyến của quân Anh bằng trận đánh tại Alam Halfa. Ông đã hoàn toàn bị cầm chân lại bởi vị chỉ huy mới đến của quân Đồng Minh, Trung tướng Bernard Montgomery, một người luôn có được sự hỗ trợ tuyệt đối về lương thực và vũ khí.
Do các lực lượng Đồng Minh từ Malta ngăn chặn nguồn tiếp tế của Rommel ngay tại bờ biển, và cả một khu vực rất rộng lớn mà ông phải giữ lấy, Rommel không thể giữ El Alamein mãi được. Vì vậy mà sau trận chiến tại El Alemein lần thứ hai, quân của Rommel phải rút lui. Sau thất bại tại El Alamein, mặc dù các vị lãnh tụ Hitler và Mussolini nhiều lần thúc giục Rommel, các lực lượng của ông đã không thể đứng vững và chiến đấu lại được nữa cho đến khi họ tiến vào Tunisia. Sau đó, trận chiến đầu tiên của họ không phải đối đầu với lực lượng quân đội tám nước của người Anh nữa (British Eighth Army, gồm có Úc, Ấn Độ, New Zealand, Nam Phi, Rhodesia, Pháp và Ba Lan), mà là Quân đoàn số 2 của Mỹ. Thống chế Rommel xua quân tấn công quân Mỹ trong trận chiến tại đèo Kasserine, và giáng một đòn nặng nề vào quân địch. Lại một lần nữa, ông lại được vui với chiến thắng lừng lẫy nhờ có sự quyết đoán của ông, tài năng và sự mạnh mẽ của ông đã khiến cho quân thù phải nếm mùi đại bại.
Nhưng do nguồn tiếp tế về vật chất và nhân lực ngày càng bị thiếu thốn trầm trọng nên các cuộc tấn công của Rommel ngày càng chậm lại và đuối dần đi, trong đó kế hoạch Ultra - phá hoại nguồn tiếp tế của Đồng minh chính là một mắt xích quan trọng dẫn đến sự thất bại đối với các lực lượng của ông. Cuối cùng Rommel buộc phải rời khỏi Bắc Phi và kéo theo sự thất bại của quân Đức tại đây.
*Kế hoạch phòng thủ tại bờ biển Pháp 1943-1944
Quay trở về Đức sau khi phải rút lui ở Bắc Phi, Thống chế Rommel được điều chuyển về bộ tham mưu của Tập đoàn quân B đóng tại mặt trận phía Tây Âu. Dưới sự chỉ đạo của ông, công việc phòng thủ chống đổ bộ diễn ra với tốc độ đáng kinh ngạc, hàng triệu bãi mìn, hàng ngàn ụ bê tông bảo vệ xe tăng và các chướng ngại vật đã được dựng lên trên các bãi biển và các vùng thôn quê. Tướng công binh Meise và nhiều chuyên gia kỹ thuật hiện đại nhận xét rằng Rommel "không chỉ có năng lực quân sự mà còn là thiên tài kỹ thuật nữa."
Đồng thời, khi ở đây ông đúc kết ra rằng không thể nào ngăn chặn được tốc độ tiến công dưới sự yểm trợ tối đa bằng đường không của quân Đồng Minh. Ông đã đưa ra quan điểm rằng các lực lượng xe tăng nên được tách ra thành các đơn vị nhỏ để củng cố vững chắc các điểm trọng yếu và nên được đặt gần chiến tuyến càng tốt bởi vì chúng không thể di chuyển được đi xa một khi cuộc tấn công đổ bộ nổ ra. Ông muốn cuộc tấn công của quân Đồng Minh phải được chặn đứng ngay từ các bãi biển bằng cách kết hợp hỏa lực của quân đội với hệ thống chướng ngại vật. Tuy nhiên, do quân Đức vào giai đoạn này bị thua trận liên tiếp và thiếu xe tăng, thiết giáp trầm trọng nên phương án của Rommel không được ưu tiên. Do đó, trong ngày D-Day (ngày đổ bộ vào Normandie) lực lượng Đồng Minh nhanh chóng chiếm được các vị trí đổ bộ và không bị thiệt hại nhiều.

Vào cuối thế chiến II, Thống chế Rommel bị thanh trừng do tham gia vào phong trào chống đối Hitler và bị ép buộc phải tự sát bằng thuốc độc. Nhưng khi chết, Rommel vẫn được chôn cất với đầy đủ các nghi thức dành cho chỉ huy quân sự cấp cao. Và cho đến nay, cuộc đời và sự nghiệp lẫy lừng của ông vẫn luôn là điểm thu hút của các nhà nghiên cứu lịch sử.



star

0 comments:

Post a Comment